Lợi thế song ngữ

Có quan điểm cho rằng dạy trẻ ngoại ngữ quá sớm có thể dẫn đến nói năng khiếm khuyết hay ngập ngừng bởi vì hai ngôn ngữ có thể gây ra sự nhiễu. Tuy vậy, trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra điều ngược lại: được nuôi nấng bằng hai ngôn ngữ cùng lúc thật sự có thể tạo thuận lợi cho việc phát triển các kĩ năng ngôn ngữ và tri nhận. Những năng khiếu này bao gồm tính linh động về mặt tinh thần, khả năng tư duy trừu tượng và trí nhớ hoạt động, một loại trí nhớ ngắn hạn thiết yếu cho việc học tập và giải quyết vấn đề.

great_kids_home_pic

Những thông điệp hỗn hợp

Giữa thập niên 1800 việc sử dụng song ngữ xuất hiện rất thường tại Mĩ. Nhưng vào thập niên 1880 chuyện tưởng như bình thường đó bắt đầu quay lưng lại với những người di dân khi các nhà tâm lí học tuyên bố, tiếp xúc với nhiều hơn một ngôn ngữ sẽ khiến trẻ giảm sút về mặt trí tuệ. Mặc dù vào thập niên 1960 các nhà nghiên cứu đã bắt đầu bác bỏ ý kiến đó, nhưng vẫn còn tồn tại những ý nghĩ rằng trẻ con cần phải chọn một ngôn ngữ trội hơn. “Vẫn còn giả thuyết rằng bộ não được thiết lập chỉ cho duy nhất một ngôn ngữ” nhà thần kinh học Laura-Ann Petitto, làm việc tại Gallaudet University ở Washington, D.C. cho biết.

Theo giả thuyết này, tâm thức một đứa trẻ song ngữ bị kéo vào một sự giằng co liên tục dẫn đến việc nói năng ngập ngừng và lúng túng trước việc chọn dùng ngôn ngữ nào. Nhưng trong một chuỗi nghiên cứu bắt đầu vào năm 2001, Petitto và đồng nghiệp chỉ ra rằng trẻ em tiếp xúc với hai ngôn ngữ trước tuổi lên 10 sẽ đạt tới những cột mốc ngôn ngữ then chốt. Không có dấu hiệu gì về sự phá hỏng hay nhập nhằng ngôn ngữ ở chúng. “Những đứa trẻ này hiểu được chúng có hai ngôn ngữ khác biệt nhau ngay từ ban đầu”, bà cho biết. “Chúng không bị lúng túng gì cả”.

2012_03_dvf-kids

Nghiên cứu gần đây cho biết trẻ em không chỉ có thể phân biệt được hai ngôn ngữ ở bất kì độ tuổi nào, mà những thuận lợi về khả năng tri nhận, bắt nguồn từ việc tiếp xúc ngôn ngữ thứ hai, bắt đầu từ sớm khi chúng còn là trẻ sơ sinh. Trong một nghiên cứu năm 2009 về “những đứa trẻ song ngữ còn nằm nôi” nhà tâm lí học tri nhận Agnes Kovács (Hungary) và Jacques Mehler (Ý) đã dùng bài kiểm tra thị giác để đo lường tính linh động về mặt tri nhận ở những đứa trẻ bảy tháng tuổi trong giai đoạn chưa biết nói. Kovács muốn thấy những đứa trẻ sơ sinh có thể thích ứng nhanh ra sao với những qui luật thay đổi. Họ chỉ cho bọn trẻ một mẫu hình bao gồm những âm thanh dạng như tiếng nói. Khi kết thúc chuỗi âm thanh đó, một phần thưởng bằng hình ảnh dưới dạng con búp-bê sẽ hiện lên ở một chỗ nhất định trên màn hình máy tính. Người ta mong trẻ sẽ học được rằng một mẫu hình âm thanh được cho sẵn sẽ cho biết trước sự xuất hiện của con búp bê tại địa điểm đó. Cả hai đứa trẻ song ngữ lẫn đơn ngữ đều cho thấy chúng liên hệ chuỗi âm thanh với vị trí con búp bê tốt như nhau bằng cách nhìn vào bên phải để thấy con búp bê xuất hiện. Nhưng khi Kovács chỉnh lại chuỗi âm thanh và di dời con búp-bê đi thì trẻ song ngữ cũng điều chỉnh, chuyển hướng nhìn dự đoán của chúng sang vị trí mới. Tuy nhiên, trẻ đơn ngữ thì tiếp tục tìm kiếm con búp bê ở vị trí ban đầu.

Tác động đến não bộ

Nghiên cứu khác cho biết việc được nuôi nấng thành một người biết song ngữ sẽ cải thiện những kĩ năng tri nhận một khi đứa trẻ biết nói. Trong một nghiên cứu công bố năm 2010, nhà tâm lí học Esther Adi-Japha và đồng nghiệp tại trường Bar-Ilan University ở Israel đã phát hiện ra những trẻ song ngữ từ bốn đến năm tuổi cho thấy tính sáng tạo nhiều hơn những trẻ đơn ngữ đồng trang lứa khi được yêu cầu vẽ một căn nhà hay một bông hoa tưởng tượng. Trẻ đơn ngữ có xu hướng vẽ hoa mà thiếu mất cánh hoa hay lá, trong khi đó trẻ song ngữ vẽ ra những hình ảnh tổng hợp mang tính tưởng tượng, như là “bông hoa hình cái diều” và “căn nhà robot”. Nó cho thấy khả năng vượt trội về việc nắm được những ý niệm trừu tượng. Dữ liệu từ cuộc nghiên cứu 2008 từ phòng thí nghiệm của Petitto cũng cho biết trẻ từ những gia đình nói tiếng Anh mà học tại những trường nửa Tây Ban Nha, nửa Anh sẽ làm những bài kiểm tra đọc tốt hơn những trẻ chỉ học duy nhất chương trình tiếng Anh.

Một vài nghiên cứu cũng liên hệ việc biết hai ngôn ngữ với việc trí nhớ hoạt động được cải thiện, là loại trí nhớ liên hệ với cả hai kĩ năng đọc hiểu và toán học. “Cái ấn tượng chính là việc có bao nhiêu lợi ích thuộc về phạm vi không dùng lời nói” nhà tâm lí học Ellen Bialystok của trường York University tại Toronto cho biết. Trong một nghiên cứu không được công bố Bialystok và cộng sự tại trường Đại học Nam Kinh, Trung Quốc phát hiện ra những trẻ song ngữ bảy tuổi có kết quả tốt hơn nhiều so với những trẻ đơn ngữ đồng trang lứa khi làm hai bài kiểm tra trí nhớ hoạt động. Một bài yêu cầu chúng nhớ lại và sắp xếp lại một dãy các con số, bài kia thì yêu cầu chúng làm lại theo đúng cái mẫu hình những bước nhảy của chú ếch hoạt hình trên màn hình máy tính.

animal-print-kids-baby-art-poster-128629

Những khác biệt về mặt tri nhận này cho thấy, việc học ngôn ngữ thứ hai sẽ giúp thay đổi phần nào cấu trúc của bộ não phát triển. Mặc dù phương pháp quét não bộ tiêu chuẩn, phương pháp cộng hưởng từ chức năng được khuyến cáo không nên dùng cho trẻ nhỏ, nhưng một phương pháp chụp hình não bất xâm nhập tương đối mới gọi là phương pháp quang phổ cận hồng ngoại chức năng có thể cho phép các nhà khoa học đối chiếu bộ não của trẻ song ngữ với não của trẻ đơn ngữ đồng trang lứa. Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng những khu vực ngôn ngữ của các bộ não đơn ngữ và song ngữ phát triển tương tự nhau, ngoại trừ một số vùng, như vỏ não vùng trán thấp, vốn liên quan đến cả hai kĩ năng ngôn ngữ và tư duy. Những vùng này có vẻ như hoạt động mạnh hơn đối với bọn trẻ song ngữ, đặc biệt khi chúng đang đọc sách.

Các nhà nghiên cứu nói rằng cách tốt nhất để trở nên thông thạo ngôn ngữ thứ hai là bắt đầu từ thuở nhỏ và thực hành thường xuyên. “Đào tạo ngôn ngữ phải ở mức hệ thống,” Kovács nói. Các chuyên gia ghi nhận tiếp xúc hàng ngày với ngôn ngữ thứ hai là điều hoàn hảo.824 lượt xem